Tin tức cập nhật :

Cập nhật mới nhất

Tác giả - Nhà thơ Thiết Dương với tập thơ Hương tháng giêng

Written By Trần Trung Kiên on 10 October 2014 | 02:58



Sơ lược vài dòng về 2 tác giả:

Thiết Dương, tên thật là Dương Văn Thiết, tác giả sinh vào những năm đầu của thập niên 70, tại Vĩnh Phúc, khi đất nước đang trong giai đoạn kháng chiến ác liệt. Sau khi Bắc Nam thống nhất, Thiết Dương lúc ấy còn rất bé, đã phải vào miền Nam ở nhờ nhà Chú họ để đi học phổ thông.
Gia đình nghèo, nên bản thân Thiết Dương phải tự lập từ rất sớm bằng các nghề như: chơi nhạc, vẽ quảng cáo, chép tranh thuê để có tiền ăn học.
Bằng tinh thần vượt khó nỗ lực không ngừng, Thiết Dương đã tốt nghiệp đại học GTVT, ngành xây dựng cầu đường, một nghề kỹ thuật, trái ngược hẳn với sở trường. Theo đòi hỏi của công tác nghề nghiệp, năm 2000, Thiết Dương chuyển về Vũng Tàu, công tác tại Sở GTVT cho đến nay.
Sóng Tình, tên thật là Lê Mỹ Khanh, cũng sanh vào đầu thập niên 70, tại Đà nẵng. Gia đình di cư vào Nam trước năm 75, học trung học trường Lê Qúy Đôn, Sài Gòn. sau giải phóng, theo gia đình định cư ở Âu Châu. Hiện làm nghề kinh doanh tự do.
Vốn cùng chung một niềm đam mê mãnh liệt về thơ, do đó họ đã trở thành một đôi bạn tâm giao trên bước đường thi phú, điều thú vị đáng nói là Thiết Dương là thầy dạy thơ Đường Luật cho Sóng Tình.
Tác phẩm “Hương Tháng Giêng” ra đời là tập thơ chung của hai tác giả Thiết Dương và Sóng Tình, đánh dấu cho chặng đường thơ ca của họ, cái tựa đề nghe thật lạ, mà cũng thật thân thương, như khắc ghi một kỷ niệm khó quên trong lòng hai tác giả, có lẽ do lý do ấy mà các tác giả đã chọn cái tựa đặc biệt này để đặt tên cho tập thơ đầu tay của mình.
Tập thơ chỉ có trên dưới 100 bài mà như đã kết tụ tất cả tinh hoa, cái đẹp của ngôn từ, cảm xúc của tâm hồn, tình yêu của cuộc sống đã hòa quyện trong đó v.v… Xin trích dẫn vài đoạn trong tập thơ “Hương Tháng Giêng” Mở đầu là bài “ Bến Tình Yêu” và “ Hương Tháng Giêng” một cặp bài song ca đối đáp thật ngọt ngào sâu lắng:
“Em đã đến mang trời xuân rạo rực
Nắng lả lơi về dạo khúc yêu này
Bờ bến mộng anh neo thuyền say đắm
Biển hiền hòa ôm ấm một vòng tay”.
“Giữa phố mơ hoa nắng khỏa bên lề
Tìm hạnh phúc say mê trong tiếng thở
Anh vẽ nhé tình xuân màu rực rỡ
Họa mùa yêu bỡ ngỡ trái tim hồng”.
Trong bài “Hoa Lòng Anh Họa” lời thơ mang một tâm sự của thiếu nữ nhắn gởi đến bạn tình thật là dễ thương:
“Kỷ niệm bao năm chớ hững hờ
Hoa lòng thắm thiết gửi vào thơ
Say hương yểu điệu trao hồn đắm
Nhớ họa màu yêu thật bất ngờ”.
Và lời họa trả của vai nam trong bài “Bức Tranh Tình” thật ngọt ngào không kém:
“Ôi bức tranh tình gieo ước mơ
Dòng êm trải lụa khói sương mờ
Tóc mây theo gió vào cơn mộng
Em đến cho đời tươi nét thơ.
Ta có nhau rồi thỏa mộng chưa?
Tình yêu thắm thiết đến không ngờ
Môi hôn sẽ xóa bao hờn giận
Trăng gió đan lời ca ước mơ”.
Những câu thơ ấy hòa quyện vào nhau, như một bức tranh rực rỡ chứa đầy hương yêu nồng đắm được khắc họa nồng nàn trong những vần thơ, nói lên cảm xúc thật êm đềm dịu ngọt, của những đôi tình nhân đang say sưa trong vườn hoa tình ái.
Đang dạo âm điệu nhẹ nhàng êm ái thì trong bài “ Tình Xa” của hai người, ý thơ lại tương phản, lời thơ lại ngân lên một giai điệu u buồn, như lo sợ cho cuộc tình không đến nơi bến hẹn, những cung bậc trầm lắng khắc khoải như xuyên thấu lòng người:
“Trái tim này nhỏ bé lắm tình ơi
Xin đừng chạm kẻo đau thêm lần nữa
Con tim đó biết bao ngày loang vữa
Bụi hồng trần ngập ngụa lối rêu phong”
“Dẫu cuộc đời không thể đến cùng nhau
Thì năm tháng đừng phai nhàu trang nhớ
Tình yêu nhé đừng theo con sóng vỡ
Bởi một đời dòng vẫn nợ thuyền xa”.
Nhân gian thường nói: “Tâm hồn người làm thơ đa sầu đa cảm” có lẽ không sai, vì thế trong những dòng thơ ấy từng chữ từng lời nói lên tâm sự của tác giả, và cũng như nói thay tâm sự cho những người đang yêu nhau, mà sợ rằng không được ở gần nhau, khiến cho người đọc phải ngỡ ngàng xúc động.
Cung điệu trong bài “Tiễn Trăng” cũng thế, nghe lên văng vẳng âm điệu man mác gợi cho độc giả một niềm rung cảm:
“Tiễn trăng mây trắng vấn tang sầu
Ngơ ngác theo dòng trôi mãi đâu
Vườn xưa ong bướm không về nữa
Một đóa hồng hoa nhạt nhẽo mầu”.
Tả về trăng nhưng ta cũng có thể hiểu tác giả đang nói về mình, câu thơ ngân lên một tình yêu không trọn vẹn làm xúc động lòng người. Và câu cuối như là lời trách khẽ rất nhẹ nhàng mà vẫn nói lên một ý mong chờ chung thủy.
“Đến nay thì đã ứng câu nguyền
Trăng gió hoang đàng khi bén duyên
Miên viễn bao dòng quên thệ ước
Biết chăng nơi cũ bến trông thuyền”.
Cảm xúc và tâm hồn của các tác giả đã hòa quyện vào từng lời thơ câu chữ, để đem mật ngọt hương thơ dâng tặng cho đời.
Tập thơ “Hương Tháng Giêng” tuy vỏn vẹn chỉ có trên dưới khoảng 100 bài, nhưng đã gom nhặt tinh hoa của ngôn ngữ, cảm xúc của tâm hồn, mật ngọt của tình yêu, và cái đẹp của cuộc sống mà đúc kết thành. Đọc thơ của Thiết Dương và Sóng Tình ta thấy. Thơ của Thiết Dương và Sóng Tình như mang một nét duyên rạng rỡ tươi ngời sắc sảo. Có thể trong thời gian không xa những dòng thơ mượt mà ấy sẽ đi vào trong lòng của những người yêu thơ trên khắp đất nước Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn đọc gần xa.
(Trích bài giới thiệu tập thơ "Hương Tháng Giêng" - Bảo Minh Trang)

Hồ Huỳnh Duy - Chuyên gia, Diễn giả

Written By Trần Trung Kiên on 26 February 2014 | 07:57




THÔNG TIN CHUYÊN GIA – DIỄN GIẢ


HỒ HUỲNH DUY


Họ và tên                                         : HỒ HUỲNH DUY
Thương hiệu                                   : Anthony
Ngày sinh                                        : 1980

Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Tổng Giám Đốc Công ty Cổ phần Diamond Academy .
Chủ tịch Hội đồng Quản trị - Tổng Giám Đốc Công ty Cổ phần Huy Phát.
Quản lí cấp cao Tập đoàn Forever Living Product – USA tại Việt Nam.
Đối tác chiến lược, phân phối độc quyền cho Tập đoàn bHIP Global - USA tại Viêt Nam
Doanh Nhân tiêu biểu VN 2009.
Chuyên gia : Lý luân kinh tế, Tư vấn chiến lược, Lãnh đạo cấp cao
Diễn giả - Chuyên gia đào tạo – Huấn luyện cấp cao.
Cử nhân kinh tế Quản trị kinh doanh         – Đại học Kinh tế TpHCM
Kỹ sư Điện tử Viễn thông                                     – Đại học Bách Khoa TpHCM
Cử nhân Anh ngữ                                      - Đại học Ngoại ngữ - Tin học TpHCM
Chứng chỉ  Ledearship & Core Value  - Học viện Core Value Training, USA.
Chứng chỉ Leadership                             - Học viện Dale Carnegie Training, USA.

Nhiều chứng chỉ khác từ các khóa học của các diễn giả trong và ngoài nước như T.HavrEker, Blair Singer, Bellum Tan, Robert Kyosaky…..
Leadership:
·         Hoạch định chiến lược và kiểm soát rủi ra doanh nghiệp vừa và nhỏ.
·         Tư vấn giải pháp doanh nghiệp vượt khủng hoảng.
·         Giao tiếp để lãnh đạo.
·         Kiểm soát mâu thuẫn.
·         Kiểm soát thời gian để làm việc chủ động.
·         Tạo động lực làm việc nhân viên.
·         Lãnh đạo đội/nhóm có năng lực cao.
·         Tầm nhìn, sứ mênh và giá trị.
·         Tiến hành các buổi họp hiệu quả.
·         y thác công việc.
·         Xử lí sai sót.
·         Định nghĩa hiệu quả công việc.

Hoàn thiện Qui trình:
·         Cải thiện qui trình.
·         Đổi mới tư duy lãnh đạo
·         Kiểm soát thay đổi hiêu quả
·         Sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi.
·         Phân tích vấn đề và ra quyết định.
·         Giải quyết vấn đề và ra quyết định trong nhóm.

Với gần 12 năm trong ngành, anh đã trực tiếp gián tiếp Coach hơn 200,000 khách hàng. Và hàng trăm tổ chức doanh nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đặt biệt là đã hỗ trợ tư vấn giải pháp, Coach hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ thoát khỏi khủng hoảng trong những năm gần đây.

 Email              :  hohuynhduyanthony@gmail.com
Facebook        :  https://www.facebook.com/doanhnhanhohuynhduy
Website           :  diamondacademy.com.vn
Skype              :   ho.huynh.duy
Điện Thoại     : 0974.71.42.76




Từ khóa: Hồ Huỳnh Duy

Gustave Eiffel - Nhà thiết kế tháp Eiffel

Written By Trần Trung Kiên on 15 December 2013 | 03:20


Alexandre Gustave Eiffel (15 tháng 12 năm 1832 – 27 tháng 12 năm 1923; Phát âm tiếng Pháp: [efɛl], tiếng Anh: /ˈaɪfəl/) là một kỹ sư kết cấu, nhà thầu và một nhà chuyên môn về các kết cấu kim loại người Pháp. Ông nổi tiếng vì đã thiết kế Tháp Eiffel, xây dựng năm 1887–1889 cho Triển lãm Thế giới năm 1889 tại Paris, Pháp, và cốt cho Tượng thần Tự do, ở Cảng New York, Hoa Kỳ

Tuổi trẻ
Alexandre Gustave Eiffel sinh tại Dijon, Côte-d'Or, Pháp. Cái tên Gustave Eiffel được cha ông lấy từ đầu thế kỷ 19 theo nơi sinh của ông tại vùng Eifel Đức (ở Marmagen), bởi người Pháp không thể đánh vần được họ của ông, Bönickhausen. Thời tuổi trẻ, hai luồng ảnh hưởng mạnh nhất tới Gustave Eiffel đều là những nhà hoá học thành công, hai người chú Jean-Baptiste Mollerat và Michel Perret. Cả hai đều bỏ rất nhiều thời gian chơi với Gustave Eiffelnhồi nhét vào đầu ông mọi thứ từ các kiến thức hoá học tới khai mỏ tới tôn giáo và triết học. Ở trường học, Gustave Eiffel rất thông minh, nhưng không chăm chỉ lắm. Khi theo học trung học tại Lycée Royal, Gustave Eiffel thấy chán ngán và cảm thấy rằng các buổi học là một sự phí phạm thời gian. Mãi tới hai năm học cuối cùng Gustave Eiffel mới tìm được niềm cảm hứng của mình, không phải trong kỹ thuật, mà là trong lịch sử và văn học. Các thói quen học tập của Gustave Eiffel dần cải thiện và ông tốt nghiệp với bằng cấp cả về khoa học và nhân văn. Gustave Eiffel đăng ký theo học tại một trường cao đẳng ở Sainte Barbe College tại Paris, để chuẩn bị cho các kỳ thi đầu vào khó khăn tại École Polytechnique. École Polytechnique từng, và vẫn là, ngôi trường nổi tiếng về kỹ thuật ở Pháp. Cuối cùng, Alexandre Gustave Eiffel không được nhận vào École Polytechnique, nhưng thay vào đó ông theo học tại École Centrale des Arts et Manufactures ở Paris nơi ông học hoá học, nhận được bằng cấp tương đương Thạc sĩ Khoa học năm 1855. École Centrale là một trường tư tự do hiện nổi tiếng là một trong các trường kỹ thuật hàng đầu châu Âu. Công việc kinh doanh than của mẹ ông mang lại nguồn thu nhập dư dật cho gia đình và tạo điều kiện cho Gustave có được nền giáo dục đại học. Năm 1855 cũng là năm Paris đứng ra tổ chức Hội chợ Thế giới đầu tiên. Sau khi tốt nghiệp, người chú của Gustave Eiffel đề nghị ông làm việc tại một xưởng dấm ở Dijon, Pháp. Tuy nhiên, một cuộc tranh cãi gia đình đã không chấp nhận cơ hội đó, và Gustave Eiffel nhanh chóng thành nhân viên mới tại một công ty thiết kế cầu đường sắt.
Charles Nepveu trao cho Gustave Eiffel công việc đầu tiên với tư cách một trong nhiều quản lý dự án của một cầu đường sắt nằm ở Bordeaux, Pháp. Trong quá trình xây dựng, các kỹ sư lớn tuổi ở dự án dần thôi việc, và Gustave Eiffel cuối cùng đảm nhiệm cả dự án. Neveu theo dõi công việc của Gustave Eiffel tại hiện trường và tiếp tục đặt Gustave Eiffel vào các công việc khác liên quan tới quản lý dự án các cầu và kết cấu đường sắt. Trong những dự án này, Gustave Eiffel được biết các kỹ sư khác thời ấy, và ông được ghi nhớ với công việc của mình và được mời làm việc tại các dự án khác. Nepveu có ảnh hưởng mạnh tới Gustave Eiffel giúp ông trở nên thành công hơn với những dự án trong tương lai.

Sự nghiệp
Eiffel et Cie., công ty tư vấn và xây dựng của Eiffel, với sự hỗ trợ của kỹ sư người Bỉ Téophile Seyrig, đã tham gia vào gói thầu quốc tế xây dựng một cây cầu đường sắt dài 160m qua sông Douro, giữa Oporto và Vila Nova de Gaia, Bồ Đào Nha. Đề xuất của ông giành chiến thắng bởi nó đẹp, có cấu trúc trong sáng, giá thành thấp nhất, và nó tích hợp việc sử dụng phương pháp các lực, khi ấy là một kỹ thuật mới trong thiết kế cấu trúc do Maxwell phát triển năm 1864. Ponte Maria Pia là một vòng cung khớp đôi đỡ một đường sắt đơn qua các cột tăng cường cho toàn bộ cây cầu. Việc xây dựng được tiến hành nhanh chóng và cây cầu hoàn thành trong chưa tới hai năm (5 tháng 1 năm 1876 tới mùng 4 tháng 11 năm 1877). Nó được Vua D. Luís và Nữ hoàng D. Maria Pia khai trương, và cây cầu được đặt theo tên nữ hoàng. Cây cầu được sử dụng cho tới tận năm 1991 (114 năm), khi nó được thay thế bởi Cầu S. John, được thiết kế bởi kỹ sư Edgar Cardoso. Eiffel đã xây dựng một số cầu đường sắt thép đúc tại Massif Central, như các cầu cạn tại Rouzat và Bouble. Chúng vẫn được dùng cho các chuyến tàu địa phương và được xây dựng cuối những năm 1860.
Gustave Eiffel cũng thiết kế La Ruche tại Paris, Pháp. Cây cầu này, giống như Tháp Eiffel, trở thành một địa điểm thắng cảnh của thành phố. Đây là một kết cấu tròn ba tầng trông giống như một tổ ong lớn và được tạo ra như một kết cấu tạm thời sử dụng như một nhà vòm rượu tại Đại Triển lãm năm 1900. La Ruche trong tiếng Pháp có nghĩa "tổ ong". Ông cũng xây dựng cầu cạn Garabit, một cầu đường sắt gần Ruynes en Margeride tại Cantal département. Ở Châu Mỹ, Eiffel thiết kế ga đường sắt trung tâm tại Santiago de Chile (1897) và Mona Island Light nằm gần Puerto Rico. Cây đèn biển được xây dựng khoảng năm 1900 bởi Hoa Kỳ nước đã chiếm được hòn đảo sau khi chấm dứt Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Nó ngừng hoạt động năm 1976.
Năm 1887, Gustave Eiffel tham gia vào nỗ lực của Pháp xây dựng một Kênh Panama. Công ty Kênh Panama Pháp, dưới sự lãnh đạo của Ferdinand de Lesseps, đã tìm cách xây dựng một con kênh ngang mực nước biển, nhưng cuối cùng nhận ra rằng điều này là không thể thực hiện. Một con kênh nâng, với các cống đã được lựa chọn làm thiết kế mới, và Eiffel được giao việc thiết kế và xây dựng các cống. Tuy nhiên, toàn bộ dự án kênh gặp vấn đề quản lý kém nghiêm trọng, và cuối cùng sụp đổ với thiệt hại to lớn. Danh tiếng của Gustave Eiffel bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi ông bị dính líu vào các scandal tài chính liên quan tới de Lesseps và các doanh nghiệp hỗ trợ dự án. Chính Gustave Eiffel không liên quan tới các vấn đề tài chính, và sau này phán quyết có tội với ông đã được đảo ngược. Tuy nhiên, công việc của ông không bao giờ được thực hiện, bởi nỗ lực xây dựng kênh sau này của người Mỹ sử dụng các thiết kế cống mới (xem Lịch sử Kênh Panama).
Sau khi nghỉ hưu ông nghiên cứu và phát triển những ý tưởng mới thông qua việc sử dụng thực tế Tháp Eiffel. Tháp cho phép ông thực hiện những tiến bộ trong khí động học, khí tượng học, và truyền phát radio. Ông đã xây dựng một đường hầm gió tại đáy tháp để nghiên cứu khí động học, đặt các thiết bị khí tượng ở nhiều vị trí trên tháp, và đề nghị quân đội lắp đặt thiết bị radio trên đỉnh tháp. Trong những năm tiếp theo tháp tiếp tục được sử dụng cho truyền phát radio và cuối cùng được dùng để phát sóng vô tuyến.
Gustave Eiffel mất này 27 tháng 12 năm 1923 trong ngôi nhà của ông tại Rue Rabelais ở Paris, Pháp. Ông được chôn cất tại Cimetière de Levallois-Perret.
Gustave Eiffel cũng đã từng tới nhiều nơi như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Philippines, vân vân, thiết kế các toà nhà và các cấu trúc khác trong những chuyến thăm của mình. Ông trở nên rất nổi tiếng trên thế giới về ngọn tháp chúng ta đều biết ngày nay với cái tên Tháp Eiffel (đã đề cập ở trên).

Dấu ấn
Bức tranh năm 1886 của Edward Moran, The Statue of Liberty Enlightening the World (Tượng Nữ thần Tự do Soi sáng Thế giới), thể hiện lễ khai trương Tượng thần Tự do.
Cuộc Cách mạng Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Gustave Eiffel. Mọi người đi vòng quanh thế giới, các kỹ thuật và vật liệu mới xuất hiện, và các quốc gia tiến lên công nghiệp hoá. Đa số các công việc của Gustave Eiffel bị ảnh hưởng bởi một trong những điều kiện do cuộc Cách mạng Công nghiệp tạo ra.
Điều kiện ảnh hưởng mạnh nhất tới công việc của Gustave Eiffel là giao thông. Mọi người trên khắp thế giới có nhu cầu đi lại an toàn qua các con sông và cần tới những cây cầu. Việc xây dựng những cây cầu đó đã khiến Eiffel có được danh tiếng là một kỹ sư, cho phép ông theo đuổi những dự án lớn hơn và khó khăn hơn sau này. Những cây cầu ông thiết kế được xây dựng trên khắp thế giới. Những cây cầu cho phép việc đi lại và thương mại diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn tại những địa điểm chúng được xây dựng. Nhiều cây cầu của Eiffel không đòi hỏi phải có thợ tay nghề cao để lắp ráp, khiến chúng trở thành một lựa chọn rất kinh tế.
Tháp Eiffel có một dấu ấn lớn tại Pháp. Tháp là điểm nhấn của Triển lãm Thế giới (1889) và thu hút hàng triệu người tới Paris. Gần hai triệu người tới thăm Tháp Eiffel chỉ riêng trong năm 1889. Tháp nhanh chóng trở thành một điểm thu hút khách du lịch và mang lại những khoản tiền lớn cho nền kinh tế Pháp. Ban đầu bị coi là một thứ gây chướng mắt (thực tế nó được thiết kế để có thể được tháo dỡ dễ dàng sau cuộc Triển lãm), tháp nhanh chóng trở thành một biểu tượng quốc gia của Pháp và mang lại cảm giác tự hào cho người dân sống tại đó. Năm 1910 Gustave Eiffel đã có một kết luận phi thường trong xác định độ kháng gió của một đĩa phẳng; Gustave đã dùng Tháp Eiffel làm nơi thí nghiệm.
Tượng thần Tự do là một món quà của Pháp cho Mỹ. Thiết kế của Eiffel cho cấu trúc bên trong tượng cho phép nó có thể được thực hiện trong thực tế. Tượng thể hiện tình hữu nghị và sự tôn trọng giữa Pháp và Mỹ. Tượng thần Tự do nhanh chóng trở thành một biểu tượng quốc gia về tự do tại Hoa Kỳ và cũng khiến những công dân nước này tự hào. Bức tượng trở thành một điểm thu hút du khách nổi tiếng và khiến nhiều người tới New York, làm phát triển mạnh nền kinh tế. Nhiều người Mỹ sống tại Pháp rất hài lòng về món quà dành cho nước mình và để đáp lễ, đã chế tạo một bức tượng đồng tỷ lệ ¼ ở phía cuối dòng Île aux Cygnes, 1.4 km phía tây nam Tháp Eiffel.

Với tất cả những cơ hội do cuộc Cách mạng Công nghiệp mang lại, nó cũng đưa tới nhiều thách thức. Bởi Eiffel có cơ hội làm việc tại nhiều dự án ở những địa điểm khác nhau, các kỹ sư khác cũng có cơ hội tương tự. Tính cạnh tranh cho các dự án rất cao và danh tiếng của kỹ sư đóng một vai trò quan trọng trong việc thắng thầu dự án. Quả thực một thách thức khác trong sự nghiệp của Eiffel là đưa ra các vật liệu xây dựng mới. Bởi các vật liệu xây dựng mới chưa từng được chứng minh trong các dự án, các kỹ sư thường phải đối mặt với nguy cơ khi sử dụng chúng. Nhiều cây cầu Eiffel đã xây dựng được làm bằng thép là vật liệu mà ông đã giúp trở thành tiên phong. Với sự phát triển của Thế gới Công nghiệp thời kỳ ấy. Một số phát triển của ông gồm: thiết kế một hệ thống nén thuỷ lực cho phép các công nhân đặt móng cầu sâu hơn dưới nước, tạo ra các dàn vì kèo và kết cấu khung khoẻ nhưng có trọng lượng nhẹ "kiểu thanh dầm" có khả năng chống gió mạnh, sử dụng thép rèn cho xây dựng cầu bởi độ dẻo của nó có thể chống lại gió mạnh, uốn cong các đầu cột để tạo ra các đáy ổn định hơn, và phát triển "lao" là một cách dễ dàng hơn để di chuyển các thành phần kết cấu tới vị trí. Sự khéo léo và tài năng nổi bật của Gustave Eiffel cho phép ông thiết kế và xây dựng một số cấu trúc nổi tiếng nhất thế giới.



Từ khóa: Alexandre Gustave Eiffel

Robert Koch - bác sĩ và nhà sinh học người Đức

Written By THIÊN LÝ GROUP on 11 December 2013 | 02:22


Heinrich Hermann Robert Koch (11 tháng 12 năm 1843 – 27 tháng 5 năm 1910) là một bác sĩ và nhà sinh học người Đức. Ông nổi tiếng như một người đã tìm ra trực khuẩn bệnh than (1877), trực khuẩn lao (1882) và vi khuẩn bệnh tả (1883) đồng thời là người đã phát biểu nguyên tắc Koch. Ông đã được trao giải Nobel dành cho Sinh lý và Y học cho các công trình về bệnh lao vào năm 1905. Ông cũng được coi là một trong số những người đặt nền móng cho vi khuẩn học.


Tiểu sử
Robert Koch sinh vào ngày 11 tháng 12 năm 1843 tại Clausthal, trên núi Upper Harz, Đức. Là con trai của một người kĩ sư mỏ, ông làm bố mẹ phải kinh ngạc khi nói với họ rằng ông đã tự học đọc bằng một tờ báo. Đó là dấu ấn đầu tiên về sự thông minh và tính kiên trì về mặt phương pháp – những đức tính đã theo ông trong suốt cuộc đời sau này. Ông học ở một trường cấp 3 địa phương (trường Gymnasium). Ở đó ông đã thể hiện mối quan tâm tới sinh học, và cũng như bố, ham muốn mạnh mẽ đi du lịch khám phá.
Năm 1862, Koch tới Đại học Göttingen để học y khoa. Tại đây, Koch bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của giáo sư môn giải phẫu học là Friedrich Gustav Jakob Henle về bệnh truyền nhiễm là do những loài sinh vật sống kí sinh (luận điểm này đã được xuất bản vào năm 1840). Sau khi lấy bằng bác sĩ vào năm 1866, Koch tới Berlin sáu tháng để học hoá học dưới sự dẫn dắt của Virchow. Cùng năm, Koch cưới Emmy Fraats. Bà đã sinh cho ông một người con gái duy nhất là Gertrud (sinh năm 1865), người mà sau này trở thành vợ của tiến sĩ E. Pfuhl. Năm 1867, ông bắt đầu ổn định cuộc sống sau thời gian thực tập, đầu tiên ở Langenhagen và không lâu sau đó, năm 1869, ở Rackwitz, tỉnh Posen. Ở đây ông đã vượt qua kì thi nhân viên ngành y của tỉnh. Năm 1870, ông tham gia tình nguyện phục vụ trong cuộc Chiến tranh Pháp – Phổ và từ năm 1872 tới 1880 là nhân viên ngành y của tỉnh Wollstein. Cũng chính ở đây, ông đã thực hiện những nghiên cứu bước ngoặt, những nghiên cứu đã đưa ông lên vị trí cao trong giới khoa học.
Bệnh than vào thời đó đang xuất hiện trong các trang trại chăn nuôi ở tỉnh Wollstein và Koch, mặc dù không có công cụ nghiên cứu khoa học nào và còn bị tách biệt với thư viện và giới khoa học, đã lao vào nghiên cứu bệnh này bất chấp sức ép từ công việc bận rộn của ông. Phòng thí nghiệm của ông là căn nhà 4 phòng và cũng chính là nhà ông, còn dụng cụ nghiên cứu của ông, ngoài cái kính hiển vi vợ ông tặng, đều do ông tự trang bị. Trước đó thì trực khuẩn than đã được tìm ra bởi Pollender, Rayer và Davaine; và Koch đặt ra mục tiêu là chứng minh loài trực khuẩn này chính là tác nhân gây bệnh than.
Ông cấy vào chuột, bằng miếng gỗ tự chế, trực khuẩn than lấy từ lá lách của những động vật trong nông trại đã bị chết bởi bệnh than, và thấy rằng những con chuột này bị chết bởi trực khuẩn. Trong khi cùng lúc những con chuột được cấy bằng máu từ lách của những con vật nuôi khoẻ mạnh thì không bị mắc bệnh than. Điều này củng cố cho những nghiên cứu khác đã chứng minh rằng bệnh này có thể lây qua đường máu từ những con vật đã bị bệnh.
Nhưng điều đó chưa thoả mãn Koch. Ông còn muốn biết những con trực khuẩn than chưa bao giờ phát triển trong động vật thì có khả năng gây bệnh hay không. Để giả quyết vấn đề này, ông đã triết xuất pure culture của trực khuẩn bằng cách nuôi cấy chúng trong dịch lấy từ mắt bò. Bằng cách nghiên cứu, vẽ và chụp hình lại những môi trường nuôi cấy này, Koch đã ghi lại sự nhân lên của trực khuẩn và nhận thấy rằng điều kiện nuôi cấy không thích hợp với chúng, chúng đã tạo ra bào tử (spore) bên trong chúng để chống lại điều kiện bất lợi đặc biệt là thiếu ôxy, và khi điều kiện thuận lợi trở lại, bào tử có thể trở lại thành trực khuẩn. Koch nuôi trực khuẩn qua vài thế hệ trong pure culture và chỉ ra rằng cả khi chúng không hề lớn lên trong động vật thì chúng vẫn có khả năng gây bệnh than.
Kết quả của công việc lao khổ này đã được Koch trình bày cho Ferdinand Cohn, giáo sư thực vật học ở Đại học Breslau, người đã tổ chức một cuộc họp cùng với những đồng nghiệp của mình cùng làm chứng cho sự trình bày của Koch trong số đó có giáo sư Cohnheim, giáo sư về giải phẫu bệnh học. Cả Cohn và Cohnheim đều bị ấn tượng bởi công trình của Koch và khi Cohn, vào năm 1876, xuất bản công trình của Koch trong một tờ báo của ngành thực vật học mà ông làm biên tập viên thì Koch đã lập tức trở nên nổi tiếng. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục làm việc ở Wollstein 4 năm sau đó và trong thời gian đó đã tiến bộ hơn nhiều trong kĩ năng cố định, nhuộm và chụp hình vi khuẩn đồng thời nghiên cứu thêm một số công trình quan trọng nữa về bệnh gây ra bởi vi khuẩn trong các vết thương, và xuất bản công trình vào năm 1878. Trong những công trình này ông đã nêu lên, cũng như những gì ông đã làm với bệnh than, bản chất khoa học và thực nghiệm cho cách kiểm soát những bệnh truyền nhiễm đó.
Tuy nhiên Koch vẫn còn thiếu điều kiện cho công việc của ông và phải tới năm 1880, khi ông được bổ nhiệm làm thành viên của Reichs-Gesundheitsamt (Cục Y tế Hoàng gia) ở Berlin, thì ông mới được cung cấp đầu tiên là một phòng hẹp, thiếu thốn nhưng sau đó là một phòng thí nghiệm đầy đủ hơn, trong đó ông đã làm việc với các phụ tá là Loeffler, Gaffky và những người khác. Ở đây, Koch tiếp tục hoàn thiện phương pháp nghiên cứu vi khuẩn mà ông đã dùng ở Wollstein. Ông phát minh ra phương pháp mới Reinkulturen – cấy pure culture của vi khuẩn vào môi trường nuôi cấy rắn như khoai tây, hay thạch đựng trong một loại đĩa đặc biệt phát minh bởi đồng nghiệp của ông là Julius Richard Petri, mà tới nay nó vẫn được sử dụng phổ biến. Ông cũng phát minh ra một phương pháp nhuộm vi khuẩn mới làm chúng dễ nhìn hơn và giúp xác minh chúng. Kết quả của những công trình này là sự mở đầu cho phương pháp nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh trong đó vi khuẩn có thể dễ dàng tách ra trong pure culture, không nằm trong cơ thể sinh vật và vì vậy chúng có thể được xác định.
Koch cũng đặt ra tiêu chuẩn, được biết đến như nguyên tắc Koch (Koch's postulate). Để chấp nhận một vi khuẩn nào đó là nguyên nhân gây ra một bệnh nhất định hay không thì tất cả tiêu chuẩn của "nguyên tắc Koch" cần được thoả mãn.
Hai năm sau khi tới Berlin, Koch phát hiện ra trực khuẩn lao và phương pháp nuôi cấy nó trên pure culture. Năm 1882, ông xuất bản công trình kinh điển của ông về trực khuẩn. Ông vẫn tiếp tục bận rộn nghiên cứu cho tới khi ông được cử tới Ai Cập vào năm 1883 với vai trò Chủ tịch Uỷ ban về bệnh tả của Đức, để điều tra về dịch tả đang bùng phát ở đó. Ở đây ông đã phát hiện ra vi khuẩn vibrio là nguyên nhân gây bệnh tả và mang được pure culture của vi khuẩn này về Đức. Ông cũng nghiên cứu cả vi khuẩn tả ở Ấn Độ.
Trên cơ sở những kiến thức của ông về đặc điểm sinh học và sự phân bố của vi khuẩn tả, Koch đã hệ thống hoá nguyên tắc để kiểm soát dịch tả và điều đó đã được chấp thuận bởi Quyền tối cao ở Dresden vào năm 1893 và nó đã trở thành nền móng cho việc kiểm soát dịch tả ngày nay. Công trình của ông về bệnh tả đã được nhận giải thưởng 100 ngàn mark Đức đồng thời cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc có kế hoạch bảo vệ nguồn nước sinh hoạt.
Năm 1885, Koch được phong Giáo sư về vệ sinh học của Đại học Berlin và Giám đốc của Viện vệ sinh mới được thành lập lúc đó tại trường này. Năm 1890 ông được phong thượng tướng và người có đặc quyền (Freeman) của thành phố Berlin. Năm 1891 ông trở thành Giáo sư Danh dự của khoa Y ở Berlin và Giám đốc Viện các bệnh truyền nhiễm, nơi ông đã may mắn gặp được những đồng nghiệp như Ehrlich, von Behring và Kitasato, cũng là những nhà phát minh nổi tiếng. Năm 1893, Koch cưới người vợ thứ hai là Hedwig Freiberg.
Trong thời gian này, Koch quay lại với những nghiên cứu về bệnh lao. Ông cố gắng hãm lại quá trình phát triển bệnh bằng chất mà ông gọi là tuberculin, được làm từ môi trường nuôi cấy trực khuẩn lao. Ông chuẩn bị các mẫu tuberculin, mới và cũ, và sự thông báo về mẫu tuberculin cũ đã gây rất nhiều tranh cãi. Khả năng chữa trị của chất này theo như những gì Koch tuyên bố là một sự thổi phồng, và bởi vì hi vọng từ nó không được thoả mãn, dư luận quay ra chống lại nó và chống lại Koch. Chất tuberculin mới được Koch công bố vào năm 1896 và khả năng chữa trị của nó cũng làm thất vọng mọi người; nhưng nó đã dẫn tới sự phát hiện của một chất có giá trị về mặt chẩn đoán.
Trong khi công trình về tuberculin vẫn tiếp tục, đồng nghiệp của ông ở Viện về các bệnh truyền nhiễm là von Behring, Ehrlich và Kitasato nghiên cứu và xuất bản công trình mang tính bước ngoặt của họ về sự miễn dịch của bệnh bạch hầu.
Năm 1896, Koch tới Nam Phi để nghiên cứu nguyên nhân của bệnh dịch virut Rinde (rinderpest) và mặc dù ông không tìm được nguyên nhân, ông cũng đã thành công trong việc hạn chế sự bùng phát của bệnh dịch bằng cách tiêm cho những con gia súc khoẻ mạnh mật lấy từ túi mật của những con đã bị bệnh. Rồi sau đó là các nghiên cứu ở Ấn Độ và châu Phi về sốt rét, sốt rét tiểu đen (blackwater fever), bệnh xura (surra) ở gia súc, ngựa và bệnh dịch hạch và xuất bản những quan sát của ông về các bệnh này vào năm 1898. Không lâu sau khi quay lại Đức, ông lại được cử tới Ý và vùng nhiệt đới nơi ông xác nhận công trình của Ronald Ross về sốt rét và làm được một số công việc có ích trong nghiên cứu về nguyên nhân của các dạng khác nhau của sốt rét và việc kiểm soát nó bằng thuốc kí ninh.
Trong những năm cuối của cuộc đời, Koch đi tới kết luận là trực khuẩn gây bệnh lao ở người và bò là khác nhau và tuyên bố của ông về điều này tại Hội nghị Y học quốc tế về Lao ở Luân Đôn năm 1901 đã gây ra nhiều tranh cãi, nhưng bây giờ thì quan điểm đấy của ông đã được công nhận là đúng. Công trình nghiên cứu của ông về bệnh sốt Rickettsia đã dẫn đến ý tưởng mới, rằng căn bệnh này được truyền dễ dàng từ người sang người hơn là từ nước uống, và vì thế dẫn đến phương pháp kiểm soát bệnh mới.
Tháng 12 năm 1904, Koch được cử tới vùng Đông Phi của người Đức để nghiên cứu bệnh sốt ở Bờ Biển Đông trên gia súc và ông đã tiến hành những quan sát quan trọng, không chỉ với dịch bệnh này mà còn với những loài gây bệnh Babesia và Trypanosome và bệnh xoắn khuẩn spirochaet có nguồn gốc lây truyền qua ve, bọ; và tiếp tục công việc của ông trên những sinh vật này khi ông trở về nhà.
Koch là người đã nhận rất nhiều giải thưởng và huân chương, học vị tiến sĩ danh dự của Đại học Heidelberg và Bologna, công dân danh dự của thành phố Berlin, Wollstein và quê hương ông Clausthal, thành viên danh dự của giới khoa học hàn lâm ở Berlin, Viên, Posen, Perugia, Napoli và New York. Ông cũng được huân chương danh dự Đức (German Order of the Crown), Bắc đẩu bội tinh của German Order of the Red Eagle (lần đầu tiên giải thưởng cao quí này được trao cho một người trong ngành Y) và huân chương của Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Rất lâu sau khi ông mất, ông còn được ghi công bằng tượng đài kỉ niệm và nhiều hình thức khác ở một số nước.
Năm 1905, ông nhận được giải thưởng Nobel dành cho Sinh lý và Y học. Năm 1906, ông quay lại Trung Phi để nghiên cứu về việc kiểm soát bệnh trùng mũi khoan (trypanosomiasis), và ở đó ông đã báo cáo rằng atoxyl có tác dụng chống lại bệnh này giống như thuốc kí ninh đối với sốt rét. Sau đó Koch tiếp tục công việc thực nghiệm về vi khuẩn học và huyết thanh học.
Bác sĩ Koch mất ngày 27 tháng 5 năm 1910 tại Baden-Baden.

BÍ MẬT THÀNH CÔNG CỦA DANH NHÂN


Họ và tên (*)            
Email (*)                    
Số điện thoại (*)      
Giới tính (*)               
Nghề nghiệp            
Đăng ký khám phá bí mật thành công của Danh nhân qua Email